90 độ có lẽ

Mặt trăng

Khi tôi ngắm – có những áng mây

Khi tôi không nhìn – trong trẻo

(Chora)

Bất cứ nhiếp ảnh gia nào cũng đành bó tay trước vẻ đẹp ấy.

Người ta thường ai cũng muốn nắm bắt và thấu suốt sự việc. Đêm rằm mà đám mây cứ nhẩn nhơ che trăng, không phải là trêu ngươi hay sao?

Kẻ nóng tính thì thấp thỏm quày quải bỏ đi

Người trầm tỉnh thở dài tiếc nuối, cứ chốc chốc lại ngước đầu trông lên.

Bằng mọi giá, hằng bao đời nay, con người cứ như thế, hết nghiên cứu này đến thí nghiệm kia, hết sáng kiến đến phát minh, họ đã biết cách leo tận mặt trăng, biết dự báo thời tiết mà không dại dột bày cả bàn tiệc trà trong đêm đục ngầu…

Chora không biết thuộc típ người động hay tỉnh, khôn hay dở, quay đi hay vẫn ở đó, nhưng đã chọn cho mình một tâm trí hoà hợp tuyệt đối với cảnh vật.

Đó là tâm trí tự do. Tự do không phải là cố nắm lấy những gì mình thích, mà là nắm lấy những gì mình đang có. Giống như “Xuân tới, cỏ mọc” vậy thôi.

Trên đây là một số thiển ý mà tại hạ lãnh hội được, xin lạm bàn cùng thiên hạ

Thơ Haiku vừa gần vừa xa. Gần vì cảm được. Xa vì khó đạt được.

Ngay cả khi tại hạ thốt lên mấy lời suy ngẫm này, cũng là lúc chợt nhận ra rằng, ngôn ngữ là chiếc áo quá chật để người đời có thể khoác lên khi bước qua cửa Thiền.

Còn về nguồn gốc của tựa đề “90 độ có lẽ” phía trên, nó xuất phát từ “Vòng tròn thiền” (Zen Circle) của thiền sư Soen – sa.

Circle Zen

Ông giải thích về Thiền bằng một vòng tròn. Có 05 điểm ghi trên vòng tròn này: 0 độ, 90 độ, 180 độ, 270 độ, và 360 độ. 360 độ ở ngay điểm 0 độ.

Cơ bản là:

0 – 90 độ: Phần suy nghĩ và dính mắc. Tôi cố cầu tìm hạnh phúc và tránh đau khổ.

90 độ: Mọi vật ở đây đều giống nhau, vì chúng thuộc cùng một căn bản.

180 độ: Không còn suy nghĩ, không có ngôn từ

270 độ: Vùng của thần thông và phép lạ, nếu tôi muốn có sự sống, tôi có sự sống; nếu tôi muốn sự chết, tôi có sự chết.

360 độ: mọi sự chỉ như nó là (as they are).Tâm tôi như một tấm gương sáng, phản ánh mọi sự vật như nó là.

Xét kỹ, thấy con người mình đang ở nhiều lắm là vùng “90 độ plus” (90+): Nói nhiều, thích lý luận, thích đi tìm hiểu căn nguyên, ngọn nguồn vấn đề, thích nghĩ về vô thường…

90 độ có lẽ…

Advertisements

mẹ & zen

“Người về hong nắng lặng thinh

Hong kinh vô tự, hong tình vô ngôn” (Vô danh)

Tác giả chọn “hong” làm hành động chủ đạo trong 2 câu thơ. Và mỗi danh từ đi sau một từ “hong” lại mang 3 tần số cảm nhận khác nhau: Hong nắng –> Hong kinh –> Hong tình. “Hong” là động từ diễn tả cách làm cho khô bằng cách đưa tới gần lửa hoặc phơi nơi thoáng gió. Chữ “hong” đầu tiên còn nằm trong vùng biên ý nghĩa rõ rệt này.

Đến chữ hong thứ hai – “Hong kinh” – đã có sự vượt thoát nghĩa ít nhiều. Truyện xưa có nhắc đến chuyện kinh vô tự này. Câu chuyện Tây Du Ký hẳn ai nấy đều nhớ: Đường Tam Tạng nhất mực phải thỉnh được chân kinh về Đường quốc. Tuy nhiên, Đường tăng đã từ chối kinh vô ngôn (Kinh không chữ) dù Phật tổ có dạy thầy trò ông rằng “Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay”. Kinh vô tự đã được đặt vào tay mà còn đem trả lại chẳng qua vì họ không hiểu hết ý nghĩa cao siêu của nó. Kinh vô tự ám chỉ con đường hành thiền: con người chỉ có thể giác ngộ chân lý bằng cách tham thiền tại tâm mình. Còn kinh hữu tự là tu kinh tu kệ, đốt nhang, dâng sớ… Kinh hữu tự không thể đưa con người đến rốt ráo của giải thoát.

Như khi Thích ca đi tu không có tụng kinh, không có lễ bái, dộng chuông, thắp nhang, đốt sớ. Ngài vốn không có thầy, không kinh. Ngài chỉ nhờ giác ngộ được tại tâm của mình bằng con đường tham thiền. Kinh vô tự ám chỉ pháp môn thiền, nó chỉ dành cho những bậc đại căn đại trí.

Chữ hong thứ ba là “hong tình” – lúc này tứ thơ đã vượt khá xa vùng biên ý nghĩa. Chữ hong ở đây giờ là tượng trưng cho việc thể hiện tình cảm, cảm xúc không lời. “Hong tình vô ngôn” là cách thể hiện đạo lý, tình cảm bằng ngôn ngữ không lời = không nói, chỉ thực hiện mà thôi. Một người biết yêu thương người khác, không phải qua những lời nói bóng bẩy, mà qua hành động của mình.

Khi người ta càng cố sức nói, hiệu quả của lời nói sẽ giảm đi. Giống như một người đứng giữa những vách núi, càng cố sức nói nhiều từ, tiếng vọng lại càng hỗn độn và mơ hồ.

Giống như khi người ta càng học nhiều về cách yêu thương, người ta càng có xu hướng nói nhiều về nó. Mà càng nói nhiều, càng không có thời gian để yêu thương.

Qua cách đặt ý thơ lần lượt từ “hong kinh” đến “hong tình”, tác giả đã để triết lý thiền thâm sâu chạm vào đời sống bình dị một cách tự nhiên và dễ hiểu.

Và trong cuộc sống, tôi đã lớn lên trong vòng tay của người “hong tình” như thế đó.

Người đã mang tình yêu đến bên đời, bằng hành động.

Người cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống bằng sức lao động bền bỉ.

Người tấu lên khúc hát yêu thương bình dị bằng âm thanh của sự im lặng.

Người là mẹ – một thiền sư  giữa đời thường.

Kết thúc entry này, xin dâng tặng mẹ thêm một câu thơ “hữu ngôn” mà vô ngôn:

“Ngôn ngữ trần gian là túi rách

Đựng sao đầy hai tiếng mẹ yêu”

(M.K)

P/S: Trở về câu thơ đâù entry, câu đầu thuần Việt, câu sau lại choáng bởi quá nhiều từ  Hán Việt, khiến thu hẹp số người có thể hiểu nó. Cũng bởi thơ Thiền mấy ai ở đời, có đôi lần chịu dừng lại, lắng nghe…