mẹ & zen

“Người về hong nắng lặng thinh

Hong kinh vô tự, hong tình vô ngôn” (Vô danh)

Tác giả chọn “hong” làm hành động chủ đạo trong 2 câu thơ. Và mỗi danh từ đi sau một từ “hong” lại mang 3 tần số cảm nhận khác nhau: Hong nắng –> Hong kinh –> Hong tình. “Hong” là động từ diễn tả cách làm cho khô bằng cách đưa tới gần lửa hoặc phơi nơi thoáng gió. Chữ “hong” đầu tiên còn nằm trong vùng biên ý nghĩa rõ rệt này.

Đến chữ hong thứ hai – “Hong kinh” – đã có sự vượt thoát nghĩa ít nhiều. Truyện xưa có nhắc đến chuyện kinh vô tự này. Câu chuyện Tây Du Ký hẳn ai nấy đều nhớ: Đường Tam Tạng nhất mực phải thỉnh được chân kinh về Đường quốc. Tuy nhiên, Đường tăng đã từ chối kinh vô ngôn (Kinh không chữ) dù Phật tổ có dạy thầy trò ông rằng “Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay”. Kinh vô tự đã được đặt vào tay mà còn đem trả lại chẳng qua vì họ không hiểu hết ý nghĩa cao siêu của nó. Kinh vô tự ám chỉ con đường hành thiền: con người chỉ có thể giác ngộ chân lý bằng cách tham thiền tại tâm mình. Còn kinh hữu tự là tu kinh tu kệ, đốt nhang, dâng sớ… Kinh hữu tự không thể đưa con người đến rốt ráo của giải thoát.

Như khi Thích ca đi tu không có tụng kinh, không có lễ bái, dộng chuông, thắp nhang, đốt sớ. Ngài vốn không có thầy, không kinh. Ngài chỉ nhờ giác ngộ được tại tâm của mình bằng con đường tham thiền. Kinh vô tự ám chỉ pháp môn thiền, nó chỉ dành cho những bậc đại căn đại trí.

Chữ hong thứ ba là “hong tình” – lúc này tứ thơ đã vượt khá xa vùng biên ý nghĩa. Chữ hong ở đây giờ là tượng trưng cho việc thể hiện tình cảm, cảm xúc không lời. “Hong tình vô ngôn” là cách thể hiện đạo lý, tình cảm bằng ngôn ngữ không lời = không nói, chỉ thực hiện mà thôi. Một người biết yêu thương người khác, không phải qua những lời nói bóng bẩy, mà qua hành động của mình.

Khi người ta càng cố sức nói, hiệu quả của lời nói sẽ giảm đi. Giống như một người đứng giữa những vách núi, càng cố sức nói nhiều từ, tiếng vọng lại càng hỗn độn và mơ hồ.

Giống như khi người ta càng học nhiều về cách yêu thương, người ta càng có xu hướng nói nhiều về nó. Mà càng nói nhiều, càng không có thời gian để yêu thương.

Qua cách đặt ý thơ lần lượt từ “hong kinh” đến “hong tình”, tác giả đã để triết lý thiền thâm sâu chạm vào đời sống bình dị một cách tự nhiên và dễ hiểu.

Và trong cuộc sống, tôi đã lớn lên trong vòng tay của người “hong tình” như thế đó.

Người đã mang tình yêu đến bên đời, bằng hành động.

Người cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống bằng sức lao động bền bỉ.

Người tấu lên khúc hát yêu thương bình dị bằng âm thanh của sự im lặng.

Người là mẹ – một thiền sư  giữa đời thường.

Kết thúc entry này, xin dâng tặng mẹ thêm một câu thơ “hữu ngôn” mà vô ngôn:

“Ngôn ngữ trần gian là túi rách

Đựng sao đầy hai tiếng mẹ yêu”

(M.K)

P/S: Trở về câu thơ đâù entry, câu đầu thuần Việt, câu sau lại choáng bởi quá nhiều từ  Hán Việt, khiến thu hẹp số người có thể hiểu nó. Cũng bởi thơ Thiền mấy ai ở đời, có đôi lần chịu dừng lại, lắng nghe…